//Tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội

Tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội

Trong quá trình thực hiện tội phạm, người phạm tội có thể vì một lý do nào đó mà không tiếp tục tiến hành hành vi phạm tội của mình nữa (không phải vì tác động khách quan mà từ chính chủ quan của người phạm tội), đó là vấn đề “tự ý nữa chừng chấm dứt việc phạm tội”.

Vậy trong trường hợp này, trách nhiệm hình sự sẽ được xem xét như thế nào? Việc định tội sẽ tiến hành ra sao, bài viết này sẽ đi sâu nghiên cứu vấn đề “Tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội”

            Tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội là tự ý mình không thực hiện tội phạm đến cùng, tuy không có gì ngăn cản. Người tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội được miễn TNHS về tội định phạm. Nếu hành vi thực tế đã có đủ cấu thành của 1 tội khác thì người đó phải chịu TNHS về tội này.

Tại Điều 16 BLHS 2015 sửa đổi bổ sung 2017 quy định về Tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội như sau:

“Tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội là tự mình không thực hiện tội phạm đến cùng, tuy không có gì ngăn cản.

Người tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội được miễn trách nhiệm hình sự về tội định phạm; nếu hành vi thực tế đã thực hiện có đủ yếu tố cấu thành của một tội khác, thì người đó phải chịu trách nhiệm hình sự về tội này.”

  1. Các dấu hiệu đầy đủ của trường hợp này

Xét về bản chất thì việc tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội có nét tương đồng so với qui định về phạm tội chưa đạt ở điểm hậu quả mong muốn của người phạm tội không xảy ra. Tuy nhiên hậu quả không xảy ra là xuất phát từ ý chí từ bỏ thực hiện hành vi của người phạm tội chứ không phải là do những nguyên nhân khách quan lẫn chủ quan như chế định phạm tội chưa đạt. Dấu hiệu của việc tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội được thể hiện đầy đủ qua các đặc điểm dưới đây:

Thứ nhất: Người phạm tội tự mình chấm dứt hành vi phạm tội ở giai đoạn chuẩn bị phạm tội hoặc giai đoạn phạm tội chưa đạt chưa hoàn thành.

Đây là dấu hiệu quan trọng nhất để nhận biết, người phạm tội phải tự mình, bằng ý chí của mình chấm dứt không thực các hành vi khách quan ở giai đoạn chuẩn bị phạm tội hoặc giai đoạn phạm tội chưa đặt chưa hoàn thành. Tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội còn được xem xét ở tất cả các khâu, quá trình trước khi hậu quả xảy ra.

Trường hợp tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội xảy ra ở giai đoạn tội phạm chưa đạt đã hoàn thành (xem bài viết Các giai đoạn thực hiện tội phạm) không được tính vì lúc đó người phạm tội nghĩ rằng hành vi của mình đã đủ để tạo hậu quả, không cần tiến hành thêm nữa, hay nói cách khác, họ đã thỏa mãn về ý chí nên không thực hiện hành vi phạm tội nữa, như vậy việc tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội sẽ không được đặt ra.

Tương tự trong trường hợp tội phạm đã hoàn thành, việc tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội cũng không được đặt ra vì lúc này đã thỏa mãn đầy đủ các dấu hiệu của cấu thành tội phạm.

Thứ hai: nguyên nhân dẫn đến việc chấm dứt hành vi phạm tội phải xuất phát từ sự tự nguyện và kiên quyết của người thực hiện hành vi mà không phải bị tác động bởi các bên thứ ba hay chủ thể, nguyên nhân nào khác.

Ví dụ Tội giết người qui định tại Điều 123 Bộ luật hình sự, để giết Ông A, Ông B đã chuẩn bị đầy đủ các phương tiện, công cụ, nắm bắt được lịch trình, thời gian lên rẫy của Ông B. Tuy nhiên sau đó Ông B suy nghĩ lại chỉ vì tranh chấp đất mà mình lại ra tay giết người, cảm thấy cắn rứt lương tâm nên đã dừng không thực hiện tiếp. Việc không tiếp tục thực hiện hành vi của Ông B trong trường hợp này được xem là tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội.

Thứ ba: không bị ngăn cản thực hiện hành vi

Điều này có nghĩa, ngoài việc tự mình từ bỏ ý định thực hiện hành vi phạm tội thì không có bất kỳ điều gì có thể ngăn cản người phạm tội nếu họ quyết tâm thực hiện tội phạm đến cùng. Người phạm tội tự nguyện dừng lại là do chủ quan chi phối chứ không phải khách quan, mặc dù biết rằng nếu làm vẫn thành công nhưng họ đã dừng lại. Nếu trong phạm tội chưa đạt thì ta có thể dễ dàng nhận thấy người phạm tội luôn tìm mọi cách, tạo mọi cơ hội điều kiện, vượt qua các rào cản để thực hiện hành vi của mình nhưng trong chế định này người phạm tội không hề mong muốn hậu quả xảy ra nên dừng hoặc tìm mọi cách để dừng hành vi phạm tội.

Loại bỏ việc ngăn cản, hay dừng thực hiện hành vi là do tác động bởi yếu tố khác. Cụ thể nếu do người khác khuyên răn, ngăn cản, do bị phát hiện kịp thời, do vật cản… thì không được xem xét là tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội mà đây được xem là phạm tội chưa đạt. Tự ý dừng lại là từ bỏ hẳn chứ không phải dừng lại chờ thời cơ trong trường hợp tội liên tiếp.

Ví dụ: đêm khuya Ông A đang lẻn vào nhà giết Ông B nhưng chó sủa làm mọi người thức giấc, dó đó ông A không tiến hành hành vi phạm tội nữa.

Một vấn đề nữa là việc dừng lại do hối hận, sợ phát hiện hay bị pháp luật trừng trị đều được chấp nhận, Luật không đòi hỏi về vấn đề này, cứ “dừng lại” là đã được coi là tự ý chấm dứt.

  1. Về trách nhiệm hình sự

Về nguyên tắc người tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội sẽ được miễn trách nhiệm hình sự cho tội danh định phạm. Tuy nhiên nếu các yếu tố cấu thành một tội danh khác thì người phạm tội phải chịu trách nhiệm hình sự cho tội danh đó. Ví dụ: Để giết Ông B, Ông A đã mua một khẩu súng tuy nhiên sau đó không thực hiện hành vi nữa do nhận thấy cảm giác có lỗi, ray rứt lương tâm nếu giết Ông B. Việc tự ý nửa chừng chấm dứt hành vi phạm tội, Ông A không phải chịu trách nhiệm hình sự cho Tội giết người theo Điều 123, tuy nhiên với việc mua một khẩu súng, Ông A sẽ bị xem xét trách nhiệm hình sự ở tội danh “Tội chế tạo, tàng trữ, vận chuyển, sử dụng, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt vũ khí quân dụng, phương tiện kỹ thuật quân sự” hoặc “Tội chế tạo, tàng trữ, vận chuyển, sử dụng, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt súng săn, vũ khí thô sơ, vũ khí thể thao hoặc công cụ hỗ trợ” tùy thuộc vào loại súng mà Ông A đã mua.

Việc đưa ra chế định “Tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội” cùng với miễn trách nhiệm hình sự cho tội định phạm, thật sự là chính sách khoan hồng của Nhà nước, bao dung với người biết hối lỗi, nhận thức được sai lầm của mình.

Trên đây là một số quan điểm cơ bản về “Tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội”. Nếu như bạn vẫn còn có những thắc mắc về vấn đề này, bạn có thể liên hệ trực tiếp với Luật Đông Nam Hải chúng tôi để được tư vấn và giải đáp rõ ràng, chính xác nhất:

CÔNG TY LUẬT ĐÔNG NAM HẢI

Hotline:  0976504831/ 0939958886
Email: luatdongnamhai.dnh@gmail.com
Website: 
 http://luatdongnamhai.com

Địa chỉ: Số 39, Tập thể Cục cảnh sát Hình sự, ngõ 187 Trung Kính – Yên Hòa – Cầu Giấy – HN

Các bài viết có liên quan:

Đồng phạm trong vụ án hình sự và những điều cần biết (Phần 1)

Tư vấn tội mua bán người

Tư vấn tội mua bán người; Luật Đông Nam Hải

XỬ LÝ HÀNH VI XÂM PHẠM SỨC KHOẺ CỦA NGƯỜI KHÁC